trường sĩ quan hải quân nha trang, học viện hải quân vnch
HỌC VIỆN HẢI QUÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA
By Lieutenant Commander Richard L. Madouse, U. S. Navy
Thềm Sơn Hà
Lời người dịch: đối với Hải quân Hoa Kỳ,
Trường Sĩ
Quan Hải Quân Việt Nam tại Nha Trang được
xem như ngang hàng với Học viện Hải quân Hoa Kỳ
tại Annapolis,
Vì
thế họ
sử dụng
danh từ NAVAL ACADEMY khi đề cập đến Trường SQHQ/NT.
Trường Hàng hải Nam Việt Nam, Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang, nằm trên bờ biển miền Trung, một địa điểm lý tưởng cho những người đi biển và có lẽ là khu vực thích hợp nhất ở miền Nam Việt Nam.
Học viện Hải quân Việt
Nam trên thực tế là nguồn đào tạo Sĩ quan Hải quân duy nhất. Với sự xuất hiện
của chương trình giảng dạy bốn năm tại Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, có thể sẽ
có những thay đổi để điều chỉnh chương trình đào tạo tương tự cho các Sĩ quan Hải
quân tương lai.
Tuy nhiên, kế hoạch như vậy vẫn còn phải vài năm nữa mới thực hiện được và cho
đến khi Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, nơi có thể đào tạo sĩ quan cho cả Lục
quân và Hải quân, trở thành hiện thực, Học viện Hải quân sẽ còn giữ một vai trò
quan trọng.
Trung tâm Huấn luyện Hải quân, Nha Trang, được thành lập bởi Hải quân Pháp vào
năm 1951 là nơi cung cấp sự huấn luyện cần thiết về năng khiếu căn bản và cao
hơn cho các sĩ quan và thủy thủ của Hải quân Việt Nam.
Năm 1965, nhiệm vụ đào tạo tân binh do Trung tâm Huấn luyện Hải thuyền ngày
trước đảm trách, nay đổi tên là Trung tâm Huấn luyện Cam Ranh đảm nhận.
SVSQ khóa đầu tiên của Học viện Hải quân là HQ Đại tá Trần Văn Chơn, hiện là Tư
lệnh Hải quân Việt Nam. (LND: ông là SVSQ
Thủ khoa)
Từ khóa thứ hai, năm 1953 có người hiện giữ chức
Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Hải quân là HQ Đại tá Đinh Mạnh Hùng.
Người Việt Nam đã đặt ra các tiêu chuẩn nghiêm nhặt để được nhận vào Học viện Hải quân của họ. Mỗi ứng viên phải là công dân Việt Nam, từ 18 đến 26 tuổi và phải vượt qua lần khám sức khỏe theo tiêu chuẩn hải quân. Chưa từng bị kết án hình sự bởi tòa án dân sự hoặc quân sự, và ứng viên phải có bằng Tú tài Phần hai chuyên ngành Toán học (Tú tài II ban B). Với trình độ này tương đương với khoảng một năm học tại đại học ở Hoa Kỳ.
Nếu vượt qua được những trở ngại ban đầu, ứng viên sẽ phải dự kỳ thi tuyển gồm 8 môn: Việt văn, vật lý, cơ học, lượng giác, hình học, đại số, tiếng Pháp và tiếng Anh. Những người đạt điểm cao nhất được chọn để bổ sung vào chỉ tiêu đã được xác định theo nhu cầu hiện tại của Hải quân Việt Nam.
Thời gian dự bị (huấn nhục và cơ bản quân sự) kéo dài 16 tuần tại Nha Trang là điểm dừng chân tiếp theo dành cho những ứng viên trúng tuyển.
Hoàn thành giai đoạn này ứng viên chính thức mang danh hiệu là Sinh viên Sĩ quan năm thứ nhất và mang cầu vai Alpha.Hoàn tất năm đầu tiên của chương trình giảng dạy hai năm tất cả SVSQ phải qua kỳ thi, nếu đậu sẽ được thăng cấp Chuẩn úy, nếu rớt sẽ phải ra trường với cấp bậc Trung sĩ.
Sau khi hoàn thành năm học thứ hai, mỗi SVSQ sẽ phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp, nếu đậu, các SVSQ nghành chỉ huy sẽ được mang cấp bậc HQ Thiếu úy và các SVSQ nghành cơ khí mang cấp bậc HQ Thiếu úy Cơ khí.
Các SQ tốt nghiệp thuộc nghạch trừ bị, và các tân sĩ quan có nghĩa vụ phải phục vụ 5 năm trong Hải quân. Sau hai năm phục vụ đạt tiêu chuẩn, họ có thể nộp đơn xin vào hiện dịch.
Lễ tốt nghiệp năm 1968 của Khóa 17 là một dịp gây nhiều ấn tượng nhất, ấn tượng theo bất kỳ tiêu chuẩn nào - nhưng thực sự như là cơn gió mát giữa mùa nắng gắt. Sự có mặt của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã tăng thêm uy tín vô cùng lớn lao cho lễ mản khóa. Sau bài phát biểu đầy ý nghĩa của Tổng thống, 127 tân sĩ quan đã quỳ gối trước vị Tổng tư lệnh của họ để tuyên thệ.
Mặc dù việc đào tạo tại học viện đòi hỏi khắt khe cả về thể chất lẫn tinh thần, nhưng số lượng bị loại ra tương đối ít. Khoảng 5 trong số 100 SVSQ bị loại vì học lực kém hoặc bệnh tật.
Các SVSQ Chuẩn úy không qua kỳ thi tốt nghiệp vẫn giữ cấp bậc HQ Chuẩn úy và được bổ nhiệm xuống hạm đội cùng với các bạn cùng khóa. Tuy nhiên, với sự giới thiệu của Hạm trưởng, các sĩ quan Chuẩn úy có thể về thi lại kỳ thi mãn khóa chung với khóa sau đó.
Nếu và khi nào được chấm đậu, anh ấy sẽ được mang lon HQ Thiếu úy trên vai.
Chương
trình giảng dạy của Học viện Hải quân mang lại sự cân bằng hợp lý giữa các môn
quân sự thuần túy và kỹ thuật, với cán cân nghiêng về quân sự.
Chương trình nhấn mạnh đến hàng hải và huấn luyện trên biển, đồng thời thử
thách SVSQ bằng cách dành nhiều thời gian rèn luyện cơ thể.
Giáo trình bao gồm nhiều nội
dung hơn người ta mong đợi về một trường hải quân đã tồn tại 16 năm. Cụ thể,
khoảng 36 lĩnh vực giảng dạy hiện đang được theo đuổi, với 38% thời gian trong
giảng đường và các bài tập thực hành dành cho các môn quân sự. Các khóa học kỹ
thuật chiếm 27% số giờ học của sinh viên.
Một con số ấn tượng là 19% được dành cho giáo dục thể chất, trong đó có
Tae-Kwon-Do của Hàn Quốc rất phổ biến, nhấn mạnh đến đòn chặt tay và đá chân
được sử dụng để phòng thủ cũng như tấn công. (LND: Huấn luyện viên Tae-Kwon-Do của khóa 17 là một sĩ quan Đại Hàn, cấp bậc Trung úy,
ông có Đệ thất đẳng Huyền đai)
Tầm quan trọng dành cho việc
huấn luyện hàng hải được thể hiện qua việc phân phối 9% tổng số giờ học trong
lớp cho môn này. Một cố vấn của hạm đội hải quân Hoa Kỳ, sau chuyến hải hành
đầu tiên với các SVSQ đã nhận định: "Có vẻ như họ đã ghi nhớ các vì
sao." Khi người ta nhìn thấy họ làm việc chăm chỉ để tính toán các số logarit,
thay vì sử dụng bảng tính, sự nghiêm túc mà họ dành môn học này được đánh giá
cao.
Đào
tạo tiếng Anh là một phần không thể thiếu trong chương trình học tập của SVSQ.
Mỗi tuần có bốn giờ được dành cho các lớp tiếng Anh. Học viện Hải quân sẽ sớm
có một phòng huấn luyện tiếng Anh hiện đại mà Hải quân Việt Nam có thể tự hào.
Hoàn toàn có điều hòa không khí, phòng huấn luyện 60 gian của nó sẽ cho phép
các học viên có đầy đủ khả năng nghe, ghi âm và phát lại. Hiện tại, đội
ngũ giảng viên của ban ngôn ngữ là sự
kết hợp của nhiều tài năng, bao gồm ba sĩ quan bộ binh, một chuyên gia ngôn ngữ
dân sự của Mỹ, và sáu đoàn viên của Nhóm Cố vấn Hải quân Mỹ.
Các
hoạt động về tâm lý chiến, chiến thuật bộ binh, huấn luyện trong đội hình, thanh
tra và diễn hành chiếm 10 đến 12% còn lại của chương trình giảng dạy. Không một
học viện quân sự hay hải quân nào dám bỏ qua một phần nghi thức và lễ nghi nhất
định, và Học viện Hải quân Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.
Tuy nhiên, chương trình giảng
dạy của Học viện ngày nay có thể không được thừa nhận sau 5 năm nữa. Những thay
đổi trong quá trình học tập của sĩ quan tương lai phải và sẽ đáp ứng việc tái
xác định gần như liên tục các yêu cầu đào tạo có trình độ ưu tiên cao trong môi
trường thay đổi nhanh chóng.
Khi Hải quân VNCH phát triển, khi các loại máy bay chiến đấu bắt đầu có mặt
trong hạm đội của họ và khi các thiết bị
mới được trang bị cho các tàu này, chương trình giảng dạy của Học viện Hải quân
sẽ bị ảnh hưởng.
HQ Đại tá Đinh Mạnh Hùng gần đây đã nhấn mạnh đến nhu cầu đào tạo: “Vì lực
lượng Hải quân Việt Nam đã tăng gấp đôi trong bốn năm qua nên chương trình đào
tạo đã tăng gần gấp ba để cung cấp thêm nhân sự mà Hải quân cần để đáp ứng nhiệm
vụ của mình”.
THỰC TẬP ĐỆ 7 HẠM ĐỘI
Đối với 60 hoặc 70 SVSQ đã được lựa chọn cẩn thận, trải nghiệm độc đáo và đầy
thử thách sẽ diễn ra ngay sau khi tốt nghiệp.
Mùa thu năm 1966, một chuyến thực tập và hướng dẫn của Hạm đội 7 Hoa Kỳ đã được
tổ chức cho các sĩ quan hải quân Việt Nam, và kế hoạch dự trù là sẽ tiếp tục
chương trình này hàng năm. Mục tiêu của chương trình là giúp các sĩ quan mới
vừa ra trường làm quen với các khái niệm và ứng dụng của tổ chức, quy trình làm
việc trên tàu, tiêu chuẩn hoạt động và khả năng lãnh đạo.
Trong chuyến thực tập năm 1968, 22 tàu khu trục và 9 tàu LST đã tiếp đón các SQ
khóa 17. Mỗi tàu được chỉ định tiếp nhận hai SQ Việt Nam giống như những lần
thực tập của các khóa trước. Khoảng thời gian trung bình ở trên tàu là bảy
tuần.
Chương
trình huấn luyện bao gồm càng nhiều thực tập tại chỗ càng tốt, và luân chuyển
qua mỗi ban chuyên môn trên tàu, với mỗi sĩ quan Việt Nam thường được đi kèm
theo bởi một Sĩ quan kém thâm niên trên tàu được Hạm trưởng chỉ định đi kèm.
Hạm trưởng của các tàu huấn luyện đánh giá từng sĩ quan thực tập giống như họ
đánh giá các sĩ quan của tàu. Thêm vào đó, Hạm trưởng và sĩ quan HQVN cũng viết
phúc trình nhận xét về hiệu quả của chuyến thực tập.
Rõ
ràng là Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam ủng hộ chương trình này và chắc chắn muốn
thấy nó tiếp tục. Nỗ lực này đang tiến triển, và công tác thực tập, ở cả hai
bên, đã được cải thiện, nhưng vẫn luôn còn chỗ cho sự phát triển hơn nữa để đạt
được kết quả mong muốn chung.
Các SVSQ
được hướng dẫn tại Học viện Hải quân trước khi lên tàu trình diện bắt đầu
chuyến thực tập của họ. Các chủ đề được đề cập trong năm nay bao gồm hệ thống tổ
chức hoạt động và danh xưng các quân cụ trang bị trên tàu, thủ tục đi ca, hệ
thống máy móc trên tàu, nghi thức trong phòng ăn sĩ quan, hải quy và những bài
học rút ra từ các nỗ lực trong quá khứ.
Các sĩ quan Việt Nam đã phản ứng rất tốt trong những buổi học này.
Trong vài tuần cuối của năm học, các lớp học tiếng Anh đã nhấn mạnh các danh từ
chuyên môn trong hải quân, và các thủy thủ hải quân Mỹ trong ban cố vấn tại TTHL/Nha
Trang đã cung cấp những giờ hội thoại quý giá chỉ nói về đời sống và hoạt động
trên tàu.
1.- Những khuyến nghị sau đây có thể được cứu xét khi lập kế hoạch cho các
chuyến thực tập trong tương lai:
- Công tác chuẩn bị trước khi bắt đầu chương trình cần được tăng cường ở cả hai
bên. Các sĩ quan Việt Nam tương lai đang khao khát bất kỳ tin tức nào có thể
giúp họ chuyển sang môi trường hoàn toàn xa lạ dễ dàng hơn một chút. Thông
thường, các sĩ quan Mỹ không đánh giá được tầm quan trọng của thách thức mà một
sĩ quan nước ngoài mới ra trường phải đối mặt khi họ chào đón anh ta lên tàu.
Ngược lại, các tàu Hoa Kỳ tham gia chương trình thực tập cần nhận được các
tài liệu giúp họ có được bức tranh rõ ràng hơn về người sĩ quan của Học viện HQVN
mà họ đang tiếp nhận.
Chỉ bằng cách tăng cường trao đổi thông tin, cả hai bên mới có thể đảm bảo một
chương trình đào tạo liên tục hiệu quả.
2.- Mặc dù khả năng cung cấp chiến hạm luôn luôn là một vấn đề, nhưng bất cứ
khi nào có thể, chỉ nên đưa xuống mỗi tàu một tân HQ Thiếu úy thay vì hai.
Khuynh hướng tự nhiên của những người đồng hương là an ủi nhau khi gặp khó khăn
trong công việc hoặc trở ngại về ngôn ngữ, như thế chương trình đào tạo sẽ đưa
đến kết quả không như mong đợi cho cả hai.
Với chỉ một sĩ quan mới ra trường, phòng ăn sĩ quan và cũng là nơi tụ họp của
các sĩ quan trên tàu sẽ có xu hướng dành nhiều nỗ lực hơn "để dẫn dắt anh
ta" và giữ anh ta đi đúng hướng. Cách thức này có thể được dành riêng cho
năm hoặc mười sinh viên tốt nghiệp với hạng cao.
3.-.Việc sử dụng tàu của Lực lượng Yểm trợ có thể giảm bớt một số vấn đề. Mặc
dù thực tập trên khu trục hạm lý tưởng hơn, nhưng một tàu chở dầu của hạm đội
có thể cung cấp một môi trường đào tạo phù hợp cho sĩ quan Việt Nam - và có lẽ bớt
căng thẳng hơn cho thủy thủ đoàn. Người Việt Nam dễ bị say sóng và một con tàu
với trong tải lớn chịu ảnh hưởng sóng gió ít hơn có thể thích hợp.
Hơn nữa, các chiến hạm HQVN chưa đươc trang bị các dụng cụ tinh vi. Vì vậy đào
tạo về những điều căn bản là cần thiết, và các tàu của Lực lượng Yểm trợ có thể
đáp ứng khá tốt trong lĩnh vực này.
4.- Cố vấn Học viện Hải quân vẫn phải đóng vai trò là sĩ quan liên lạc cho chuyến
Huấn luyện và Thực tập. Là người tiếp xúc hàng ngày với các SVSQ và sĩ quan huấn
luyện của họ, ông có một nhiệm vụ quan trọng và liên tục không nên dừng lại khi
gặp trở ngại. ông ấy nên có nhiều buổi thuyết trình trong phòng họp sĩ quan
chiến hạm trước khi tiếp nhận Sĩ quan Việt Nam lên tàu.
Sự xuất hiện định kỳ của cố vấn trên tàu trong chuyến hành trình có thể là liều
thuốc bổ cần thiết để giải quyết một vấn đề đang phát triển.
5.- Cuối cùng, trở ngại ngôn ngữ phải được phá bỏ. Khó khăn về ngôn ngữ đã được
các Hạm trưởng trên các chuyến thực tập trước đây nhấn mạnh là trở ngại chính
cho một giai đoạn huấn luyện thực sự có hiệu quả.
Các SQ Việt Nam sử dụng tiếng Anh từ quân trường Nha Trang cho đến thời điểm
này có thể xem như là chấp nhận được nếu xét đến cơ sở vật chất hạn chế đã và
sẽ được sử dụng cho đến khi khai giảng phòng huấn luyện ngôn ngữ mới. Việc đưa
vào chương trình các buổi thực tập đàm thoại Anh ngữ gần đây có người Mỹ giám
sát sẽ chứng minh là vô giá đối với các SVSQ Chuẩn úy hiện tại.
6.- Rõ ràng là không có ý kiến nào
trong các phê bình liên quan đến các bước đã được thực hiện để đối phó với
những khó khăn về ngôn ngữ, chẳng hạn như việc sử dụng bất kỳ ai trên tàu có
khả năng nói tiếng Việt hạn chế.
Thời gian
hoạt động ở Việt Nam của chúng ta chắc chắn đã đủ lâu để đưa những cựu chiến
binh mãn nhiệm kỳ trở lại các đơn vị Hạm đội. Các sĩ quan và thủy thủ Hải quân
thường xuyên được người dân Việt Nam chú ý vì khả năng, dù rất hạn chế, của họ
trong việc nói tiếng mẹ đẻ. Chúng ta, một phần lớn đã và đang được đào tạo ngôn
ngữ, trong khi phần đông các quân binh chủng khác lại không may mắn như vậy. Thật
không may, nếu bỏ lỡ việc áp dụng cơ hội này vào thực tế.
HỌC VIỆN HẢI QUÂN VIỆT NAM
1.- Trung tâm Huấn luyện Hải quân tại Nha Trang tọa lạc trên bãi biển rộng 30
mẫu (121.406 m2) trên Biển Đông. Nơi đây có gần năm mươi công trình cố định bao
gồm một thư viện với 9.000 cuốn sách và một Bệnh xá lớn. Một phòng tập thể dục,
một hội trường và phòng thí nghiệm ngôn ngữ Anh ngự được chia sẻ giữa Học viện
Hải quân và Trường Hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Ngoài ra còn có sân bóng chuyền, sân tennis, sân bóng rổ và thao diễn trường
rộng lớn nổi bật ngay trung tâm. Ánh nắng mùa hè rực rỡ không làm cản trở các
cuộc thi thể thao và diễn tập bộ binh, và với làn gió biển thổi vào giữa buổi
chiều, có lẽ có nhiều ngày hè ở Nha Trang dễ chịu hơn ở Washington, D.C.
Khung cảnh xung quanh nhìn chung rất dễ chịu, có đủ cây bóng mát. Nhưng cát là
một vấn đề. Khi nào và nếu những người chăn nuôi lạc đà trên thế giới quyết
định tổ chức hội nghị đầu tiên của họ, TTHL/HQ/Nha Trang—cùng với Vịnh Cam Ranh
ở phía nam—sẽ là những ứng cử viên hàng đầu cho địa điểm hội nghị.
Cả hai đều có thể tự hào cho mình “Sa mạc bên cạnh Biển.”
2.- Hệ thống đường xá ngang
qua Trung tâm Huấn luyện thì rất hẹp, nhưng nó giúp giảm bớt phần nào sự phiền
toái do cát gây ra. Tuy nhiên, trong khu vực doanh trại của các SVSQ, cát cũng
gây khó chịu như một sự thật không thể tránh khỏi trong cuộc sống, giống như
bùn trong các chiến hào trong Thế chiến I.
3.- Bản chất nghệ
thuật của người Việt Nam rõ ràng thể hiện qua những khu vườn đá và bụi cây được
chăm sóc tỉ mỉ trong khu bảo tồn - Sự chăm sóc ân cần, yêu thương dành cho
chúng có lẽ chỉ bị vượt qua bởi sự tận tâm dành cho những chiếc xe gắn máy
Honda thuộc sở hữu cá nhân. Và phạn xá (phòng
ăn SVSQ) của sinh viên hải quân trưng bày một số thiết kế nghệ thuật có thể
sánh ngang với bất kỳ phòng trưng bày nghệ thuật nào ở Mỹ.
4.- Tuy nhiên, thẩm mỹ
phải nhường chỗ cho thực tế ở Việt Nam ngày nay, và vẻ đẹp tự nhiên cũng như
nhân tạo phải bị ảnh hưởng bởi hàng rào kẻm gai cao và những cuộn dây thép gai
bảo vệ vòng đai quân trường. Các trạm canh gát, vũ khí, quân phục, các bao cát
chất cao đều chứng tỏ rằng mặc dù bầu không khí giống như một cuộc sống bình
thường nhưng nơi đây thực sự vẫn hoàn toàn là một vùng chiến sự.
Ví dụ, có một công tác "dưới ánh trăng" ngoài giờ cho sinh viên của
Trung tâm Huấn luyện Hải quân, thường làm gián đoạn giờ học buổi tối. Vài lần
trong tuần, họ lặng lẽ lục soát các làng cách đó không xa về phía nam, tìm kiếm
Việt Cộng.
5.- Sự cải tạo và phục
hồi phải là nhiệm vụ mới hàng ngày của Học viện Hải quân Việt Nam. Việc theo
đuổi các bài toán vi phân và tích phân trở nên khó khăn, nếu không nói là không
thể, khi những nhu cầu căn bản của những SVSQ chưa được thỏa mãn.
Xét về mức ưu tiên hiện tại dành cho Hải quân trong ngân sách quốc phòng Việt
Nam, đây sẽ không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Tiền cho các dự án xây cất dành
cho Hải quân Việt Nam rõ ràng đang khan hiếm.
6.- Tuy nhiên, một sự khởi đầu, dù rất nhỏ, đã được thực hiện. Vào giữa năm
1965, một trong 4 khu nhà của SVSQ đã bị súng cối Việt Cộng pháo kích phá hủy.
(LTG:
theo HQ Trung tá Trần Văn Sơn trong bài viết
Trường Sĩ quan Hải Quân và tôi “Tháng 8/1965 Việt cộng từ Đồng Bò sau lưng trường pháo kích vào
khu Sinh viên Sĩ quan làm thiệt mạng 3 Sinh viên khóa 14.”)
Trong suốt ba năm,
những đống đổ nát này vẫn tồn tại như một lời nhắc nhở về Việt Cộng. Cuối cùng,
dự án xây dựng này đã được phê duyệt,
và doanh trại mới đã được các khóa sĩ quan hải quân mới đến vào tháng 10 năm
1968 vào ở. (LND: khóa 17 ra
trường tháng 9/1968, khóa 19 nhập học tháng 10/1968)
Đối với các sĩ quan hải quân Hoa Kỳ có thể họ sẽ bác bỏ việc trắc nghiệm trong
những điều kiện như vậy.
Điển hình cho tình thế bấp bênh của Hải quân Việt Nam đối với các dự án đã được phê duyệt là việc hủy bỏ dự án tráng cement thao diễn trường vào năm ngoái. Tất cả mọi người đều hy vọng về một buổi lễ tốt nghiệp sẽ được tổ chức trên một thao diễn trường bằng phẵng có thể thoát nước thay vì đọng nước.
Những thiếu sót khác có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày. Hệ thống nước trong căn cứ
chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Việc đánh giá nó ở mức trung bình có vẻ như là một
sự phóng đại khi xét đến sự thiếu hụt hoàn toàn nguồn cung cấp nước ở một số
khu vực.
Một cuộc cải tạo lớn bên
trong quân trường đang được tiến hành để cải thiện tình hình, nhưng chỉ một
cuộc cải tạo toàn diện mới tạo ra được hệ thống nước đủ đáp ứng các nhu cầu cơ
bản về vệ sinh và chữa cháy.
Không có một nhà vệ sinh nào thỏa mãn nhu cầu SVSQ. Về mặt điện, cơ sở này
không đáng tin cậy và nguy hiểm. Cần một nỗ lực tối thiểu sáu tháng để thiết
lập đường dây điện hoàn toàn mới.
Phải thừa nhận rằng lẽ
ra Hoa Kỳ nên thúc đẩy chương trình tái thiết từ vài năm trước. Ban Cố vấn đã
bước sang năm thứ mười ba lẽ ra phải tìm cách nào đó để loại bỏ những điều kiện
sống và làm việc như lúc ban đầu vẫn còn tồn tại ở TTHL/Nha Trang. Bây giờ,
chúng ta tự lừa dối mình khi tin rằng Chương trình Hỗ trợ Quân sự sẽ hỗ trợ Học
viện, trong khi thực tế là Học viện này không nằm trong chương trình dài hạn
phức tạp như vậy.
Cả Ngân sách Việt Nam
lẫn qủy viện trợ Hoa Kỳ đều chưa bao giờ thực hiện việc cải tiến hoặc nâng cấp,
để đưa Học viện đạt tiêu chuẩn chấp nhận được
Ngoài các cơ sở đang có, Học viện Hải quân rất cần được hỗ trợ ở các lĩnh vực khác. Một tàu huấn luyện đang hoạt động, được giao cho Học viện sẽ là một cải tiến đáng kể. Hiện tại, các chiến hạm trong hạm đội được điểu động cho quân trường sử dụng khi chúng ở trong tình trạng khiển dụng, và không có gì lạ khi thời gian huấn luyện trên tàu đã được dự trù nhưng lại gặp trở ngại vì hạm đội không thể đáp ứng nhu cầu.
Phần lớn tất cả đồ họa
đồ đều được chuẩn bị bằng tay. Và liệu có ai thích thú với ý tưởng dạy đến năm
môn học khác nhau trong khi còn phải bận tâm đảm đang một công việc hành chính
khác? Trong thời đại của các chuyên gia, một đề nghị như vậy chắc chắn sẽ không
được đón nhận bằng sự nhiệt tình. Đơn giản là không có đủ sĩ quan được đào tạo
để đảm nhận chức vụ giáo sư cho Học viện. Nỗ lực cá nhân của những người được
chọn để giảng dạy một cách có hiệu quả, thực sự rất đáng kính phục.
Một vài nhận xét nên
được đưa ra liên quan đến nỗ lực cố vấn của chúng tôi. Sự yểm trợ về mặt cố vấn
của Hải quân Hoa Kỳ cho Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang bắt đầu vào năm
1956, liên tục không bị gián đoạn.
Ban cố vấn khuyến cáo cho người Việt Nam trong mọi lĩnh vực huấn luyện với hy
vọng giúp cải thiện chất lượng giảng dạy và đào tạo người sinh viên đầy đủ
trình độ bằng cách yểm trợ với chương trình giảng dạy, thời khóa biểu, soạn bài
học, dụng cụ giúp đỡ huấn luyện và kỹ thuật giảng dạy trong lớp học. Cũng mất
nhiều thời gian cho việc yểm trợ các vấn đề ngoài chương trình giảng dạy.
Đội ngũ cố vấn hiện
nay gồm ba sĩ quan, tám quân nhân và một chuyên gia ngôn ngữ dân sự. Dưới quyền
của người cố vấn trưởng có một sĩ quan làm cố vấn cho Học viện Hải quân, trong
khi người sĩ quan kia cố vấn cho Trường Hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Thách thức thực sự đối
với cố vấn là làm thế nào để xác định chính xác những công tác quan trọng cần
thực hiện. Phần thưởng mang đến sự hài lòng nhất của người cố vấn là khi ông thực
hiện thành công một dự án. Hoạch định một dự án quan trọng và theo đuổi nó để
mang lại kết quả là một mục tiêu hiếm khi đạt được. Bởi vì, mặc dù nhiệm kỳ 12
tháng là một thời gian dài xét về mặt chia ly gia đình, nhưng nó hoàn toàn quá
ngắn nếu xét về mặt chuyên môn.
Cần duy trì mối liên lạc trực tiếp và hiệu quả giữa Học viện
Hải quân Việt Nam và Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Điều này sẽ vượt xa việc trao đổi
hàng năm các tấm plaqe giữa hai quân trường. Người Việt rất quan tâm đến sách
giáo khoa được sử dụng tại trường hải quân của chúng ta, họ thực sự đang rất cần
chúng và những tài liệu huấn luyện căn bản nhất đang được sử dụng tại Học viện
Hải quân Hoa Kỳ sẽ được đón nhận nồng nhiệt tại học viện Nha Trang. Có một sự
quan tâm hết sức mạnh liệt đối với tất cả các khía cạnh của đời sống và hoạt động
tại quân trường Annapolis.
Người Việt Nam sẵn sàng công nhận rằng những khó khăn ngày càng tăng mà họ
đang trải qua trong lãnh vực huấn luyện thực sự cũng là những vấn đề tương tự
mà Hải quân Hoa Kỳ đã phải đối mặt cách đây 20 năm. Họ muốn biết chúng ta đã và
đang giải quyết những vấn đề này như thế nào.
Lợi ích tối đa có thể
được thu được từ sự quan tâm này bằng cách cử năm hoặc mười sinh viên xuất sắc
nhất của Học viện Hải quân Việt Nam đến Annapolis trong khoảng mười ngày. Ngoài
ra một chuyến đi tới West Point và một chuyến thăm Washington, D. C. cũng có thể
rất hữu ích nếu được thêm vào lịch trình.
Các SVSQ của Học viện Hải quân Mỹ đang tham gia chương trình đào tạo mùa hè với
Hạm đội Thứ Bảy cũng nên được đưa đến Nha Trang, và có thể là Đà Lạt, để tận hưởng
vài ngày thú vị tại Việt Nam.
Nhiệm vụ của Học viện
Hải quân Việt Nam là nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của Hải quân Việt Nam
bằng cách đào tạo những sĩ quan giỏi và tận tâm, hướng dẫn SVSQ theo chiều hướng
chú trọng về đạo đức, tinh thần và thể chất, đồng thời truyền cho họ những lý
tưởng cao cả nhất về trách nhiệm, danh dự và lòng trung thành.
Sứ mệnh này đang được thực hiện.
Chiêm ngưỡng thành tích xuất sắc của họ, như khi Tư lệnh Hải quân đến thăm
chính thức, giải đáp những câu hỏi sôi nổi của họ trong bữa tối tại phạn xá,
hay quan sát sự tham gia đầy nhiệt tâm của họ trong lớp học, người ta cảm nhận
được thái độ cao cả và tinh thần cống hiến của những sĩ quan tương lai này.
KẾT LUẬN
Hải quân VNCH ngày nay có hơn 600 tàu cùng với 18.000 sĩ quan và đoàn viên. Hầu
hết hạm đội của họ khác xa so với các loại chiến hạm tối tân của chúng ta,
nhưng không giống như Hải quân của chúng ta, nhu cầu cấp bách nhất của họ là
các lực lượng duyên hải và sông ngòi.
Trong tương lai, khi hạm đội Việt Nam chuyển hướng hoạt động ngoài biển khơi, đây là điều
chắc chắn sẽ xảy ra, chúng ta nên tiếp tục hướng dẫn họ.
HQ Thiếu tá Madouse tốt nghiệp Học viện Hải
quân Hoa Kỳ năm 1957, phục vụ trên khu trục hạm USS Hopewell (DD-681) từ năm
1957 đến năm 1960. Ông theo học tại Trường hậu đại học Hải quân Hoa Kỳ từ năm
1960 đến năm 1962 và nhận bằng cử nhân Điện tử. Kỹ thuật. Ông phục vụ trên tàu
USS Kawishiwi (AO-146) từ năm 1962 đến năm 1964, Hạm phó USS Current (ARS-22)
năm 1964-1965. Sau một thời gian công tác tại Bộ Chỉ huy Quân dụng Hải quân, từ năm 1966 đến năm 1968, ông trở thành Cố vấn Học viện Hải quân Việt Nam, Nha Trang, VNCH.
Comments
Post a Comment